Ự SINH THÀNH VIỆT NAM Bắt đầu từ những đám mấy huyền thoại. Tôi muốn bắt đầu việc trình bày lịch sử dân tộc tôi từ những mây mù của huyền thoại. Dân tộc nào cũng có những truyền thuyết, huyền thoại về buổi đầu lịch sử của mình. Dân tộc tôi cũng vậy. Nhưng không biết có dân tộc nào như dân tộc tôi, cho đến nay vẫn có một ngôi mộ Tổ chung, ngôi mộ của vua Hùng, vị thủ lĩnh cổ xưa, trên một ngọn núi cao, mà hàng nằm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, nhân dân khắp miền của đất nước, đều làm một cuộc hành hương về ngôi mộ trên núi, thắp hương tưởng niệm buổi đầu mở nước.| 1. Bắt đầu từ đám mây mù của huyền thoại 2. Thử vén đám mây mù của huyền thoại 3. Nhưng không phải chỉ có huyền thoại 4. Trong buổi sáng của lịch sử 5. Từ những người săn bắn hái lượm đến những người trồng trọt 6. Một bức tranh ghép mảnh (mosaic) mới của văn hóa tiền sử 7. Từ khi đồng thau xuất hiện ở lưu vực sông Hồng 8. …Và ở các lưu vực sông Mã, sông Lam 9. Rực rỡ Đông Sơn 10. Cuộc sống của người Đông Sơn 11. Trống đồng Đông Sơn 12. Sự hình thành nhà nước đầu tiên 13. Vua An Dương và nước Âu Lạc 14. Thành Cổ Loa 15. Triệu Đà chiếm nước Âu Lạc 16. Từ ách thống trị của Nam Việt đến ách thống trị của đế quốc Hán 17. Hai thế kỷ trước Công nguyên: Bắt đầu một tiếp biến văn hóa 18. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng 19. Năm thế kỷ sau Công nguyên: Tình hình nông nghiệp 20. Năm thế kỷ sau Công nguyên: Tình hình thủ công nghiệp 21. Năm thế kỷ sau Công nguyên: Những biến đổi xã hội và văn hóa 22. Nho giáo và Đạo giáo ở Giao châu 23. Sự du nhập của Phật giáo ở Việt Nam 24. Cuộc nổi dậy của Bà Triệu 25. Các cuộc nổi dậy ở Giao châu sau khởi nghĩa Bà Triệu 26. Lý Bí và nước Vạn Xuân 27. Cuộc kháng chiến chống quân Lương 28. Lý Phật Tử và cuộc xâm lược của nhà Tùy 29. Dưới sự thống trị của Tùy-Đường 30. Văn hóa Việt Nam thời Tùy-Đường 31. Cuộc nổi dậy của ông vua đen 32. Từ vua Bố Cái đến thủ lĩnh Dương Thanh 33. Họ Khúc và bước đầu của nền độc lập 34. Dương Đình Nghệ khôi phục quyền tự chủ (931-937) 35. Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938 36. Nhìn lại mười thế kỷ dưới sự thống trị của Trung Quốc 37. Từ triều Ngô đến mười hai sứ quân 38. Đinh Bộ Lĩnh khôi phục sự thống nhất đất nước 39. Lê Hoàn và cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 40. Thành Hoa Lư 41. Triều đại Lê : tình hình chính trị 42. Triều đại Lê : tình hình kinh tế 43. Văn hóa việt nam thế kỷ 10 44. Ông vua nằm và sự kết thúc của triều Lê 45. Lý Công Uẩn với sự bắt đầu của thời kỳ Thăng Long 46. Triều đại Lý và chế độ trung ương tập quyền 47. Quân đội thời Lý 48. Nhà Lý với các dân tộc thiểu số 49. Cuộc kháng chiến chống Tống: Tấn công trước để tự vệ 50. Cuộc kháng chiến chống Tống: Chiến trận bên sông Cầu 51. Các hình thức sở hữu ruộng đất thời Lý 52. Nông nghiệp thời Lý 53. Thủ công nghiệp thời Lý 54. Thương nghiệp thời Lý 55. Đời sống hàng ngày thời Lý 56. Các tôn giáo thời Lý 57. Nghệ thuật thời Lý 58. Thăng long thời Lý |
59. Sự suy vong của triều Lý 60. Nhà Trần bắt đầu 61. Bộ máy quan lại từ trung ương đến làng xã 62. Quân đội thời Trần 63. Cuộc kháng chiến chống quân mông cổ năm 1258 64. Giữa hai cuộc chiến tranh (1258 - 1285) 65. Hội nghị Diên Hồng và Hịch Tướng sĩ của Trần Hưng Đạo 66. Cuộc kháng chiến chống Nguyên năm 1285 67. Cuộc kháng chiến chống Nguyên 1287 - 1288 68. Sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Trần 69. Thủ công nghiệp và thương nghiệp thời Trần 70. Đời sống hàng ngày và lễ hội thời Trần 71. Phật giáo và nho giáo thời Trần 72. Nghệ thuật thời Trần 73. Thăng long thời Trần 74. Triều Trần trên bước đường suy vong 75. Những cải cách của Hồ Quý Ly và triều đại Hồ 76. Quân Minh xâm lược 77. Những cuộc khởi nghĩa chống minh đầu tiên 78. Khởi nghĩa Lam Sơn: Những bước đầu gian khổ 79. Khởi nghĩa Lam Sơn: Tiến đến thắng lợi hoàn toàn 80. Lê lợi với việc hàn gắn vết thương chiến tranh 81. Sự củng cố nhà nước tập quyền ở thế kỷ 15 82. Chính sách ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thế kỷ 15 83. Thủ công nghiệp và Thương nghiệp thế kỷ 15 84. Nho giáo chiếm ưu thế ở thế kỷ 15 85. Văn học nghệ thuật thế kỷ 15 86. Sự củng cố nhà nước tập quyền ở thế kỷ 15 87. Chính sách ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thế kỷ 15 88. Thế kỷ 16 bắt đầu với nhiều biến động 89. Nhà Mạc và cuộc chiến tranh Nam-Bắc 90. Cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn 91. Kinh tế nông nghiệp và công việc khai hoang thế kỷ 16-17 92. Thủ công nghiệp và thương nghiệp thế kỷ 16-17 93. Văn hóa Việt Nam thế kỷ 16-17: Đời sống tư tưởng và tôn giáo 94. Văn hóa Việt Nam thế kỷ 16-17: Văn học và nghệ thuật 95. Đàng NgoàI thế kỷ 18: Sự mục nát của chính quyền Trịnh 96. Kinh tế Đàng NgoàI thế kỷ 18: Thủ công nghiệp và thương nghiệp 97. Kinh tế Đàng NgoàI thế kỷ 18: Nông nghiệp 98. Những cuộc nổi dậy của nông dân Đàng Ngoài 99. Kinh tế Đàng Trong thế kỷ 18 100. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn 101. Tây Sơn chống quân Xiêm 102. Lật đổ chính quyền Lê-Trịnh 103. Kháng chiến chống quân Thanh 104. Đời sống tinh thần thế kỷ 18: Ý thức và tín ngưỡng 105. Đời sống tinh thần thế kỷ 18: Văn học nghệ thuật 106. Nguyễn Ánh khôi phục ngai vàng 107. Lời tạm biệt của tác giả - Vài dòng về nhà Nguyễn. |
St: Ngô Thị Nhung
- Dịch giả: Hà Văn Tấn
- Khổ sách: 15,5 x 23
- Số trang: 160tr- 2017
ạp phong thổ ký của Chu Đạt Quan bản chữ Hán có 8.500 chữ, ngoài Tổng tự, chia làm 40 đề mục. Các đề mục không ghi thứ tự nhưng sắp xếp theo trình tự như sau: 1. Thành quách; 2. Cung thất; 3. Phục sức; 4. Quan thuộc; 5. Tam giáo; 6. Nhân vật; 7. Sản phụ; 8. Con gái; 9. Nô tỳ; 10. Ngôn ngữ; 11. Dã nhân; 12. Văn tự; 13. Năm tháng ngày giờ; 14. Tranh tụng; 15. Bệnh hủi; 16. Tử vong; 17. Cày cấy; 18. Núi sông; 19. Sản phẩm; 20. Mậu dịch; 21. Muốn được hàng hóa; 22. Cỏ cây Trung Quốc; 23. Chim; 24. Thú; 25. Rau dưa; 26. Cá, bò sát; 27. Ủ rượu; 28. Muối, dấm, tương, miến; 29. Tằm tang; 30. Đồ dùng; 31. Xe kiệu; 32. Thuyền và mái chèo; 33. Thuộc quận; 34. Thôn xóm; 35. Lấy mật; 36. Việc lạ; 37. Tắm gội; 38. Lưu ngụ; 39. Quân mã; 40. Quốc chủ ra vào.Về kiến trúc và đời sống cung đình: đề mục 1, 2, 6, 40.
Về tổ chức bộ máy nhà nước: đề mục 5, 33, 34, 39.
Về điều kiện tự nhiên và sản vật: đề mục 18, 19, 22, 23, 24, 25, 26.
Về các hoạt động kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và mậu dịch: đề mục 17, 20, 21, 29, 32.
Về đời sống văn hóa từ các tầng lớp xã hội, trang phục, đồ dùng, ẩm thực đến văn tự, lịch pháp, tín ngưỡng, phong tục tập quán: đề mục 3, 4, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 27, 28, 30, 31, 35, 36, 37, 38.
Chu Đạt Quan qua Chân Lạp phong thổ ký đã lưu lại một diện mạo khá toàn diện cuộc sống của vùng quốc đô nước Chân Lạp dưới vương triều Indravarman III (1295-1307). Với vốn hiểu biết sâu sắc và dưới góc nhìn của một người nước ngoài, Chu Đạt Quan để lại những miêu tả khá cụ thể và sinh động về văn hóa, lối sống, phong tục tập quán của người Chân Lạp, có những điều do ông quan sát trực tiếp và cũng có những điều do ông nghe kể qua các chuyện kể dân gian. Chính trong nguồn tư liệu truyền khẩu dân gian này, có những câu chuyện làm cho các nhà khoa học băn khoăn, hoài nghi về tính xác thực của nó, cho rằng hoặc có thể do tác giả nghe theo lời đồn đại không có điều kiện khảo cứu tường tận, hoặc do tác giả cường điệu tính kỳ lạ của nó, ví như chuyện “Trận thảm” trong đề mục “Con gái” (đề mục 8). Nhưng dù sao ghi lại những chuyện kể dân gian đó từ thế kỷ XIII với nhận thức của tác giả vẫn là những tư liệu có niên đại cụ thể để mai sau thẩm định. Giá trị tư liệu của tác phẩm Chân Lạp phong thổ ký là điều được mọi nhà nghiên cứu khẳng định và đánh giá cao.
(ST: Ngô Thị Nhung)
Ban Tổ chức Hội nghị trân trọng kính mời các cơ quan, tổ chức, cá nhân làm công tác khảo cổ học và các ngành có liên quan gửi bài viết tham dự hội nghị.
1. Nội dung bài gửi: Những phát hiện và nghiên cứu mới về khảo cổ học trong năm qua (kể từ Hội nghị thông báo tháng 9 năm 2016 tới nay). Nội dung thông tin cần chắt lọc, tập trung vào những phát hiện và nghiên cứu mới.
Để thuận lợi cho công tác tổ chức hội nghị và in ấn, Ban tổ chức hội nghị chỉ khuyến khích những bài viết có nội dung liên quan trực tiếp đến chuyên ngành khảo cổ học - những di tồn văn hóa vật chất (di tích, di vật khảo cổ học), còn những đối tượng sưu tầm, nghiên cứu khác như sắc phong, các văn bản Hán - Nôm, thư tịch hay các tư liệu văn hóa dân gian… xin được gửi tới hội nghị thuộc các chuyên ngành khác phù hợp hơn. Rất mong quý vị cảm thông, chia sẻ với Ban tổ chức hội nghị.
2. Hình thức: Độ dài mỗi bài tối đa là 03 trang đánh máy khổ giấy A4 với không quá 03 tác giả mỗi báo cáo. Mỗi tác giả gửi tối đa 03 báo cáo. Các bản vẽ và ảnh minh hoạ xin đính kèm vào bản text trong file vi tính. Phông chữ thống nhất sử dụng trong bài viết là Unicode - Times New Roman; cỡ chữ 13; không chấp nhận các bản text bằng PDF.
3. Thời gian gửi bài: Hạn cuối cùng đến hết ngày 31 tháng 8 năm 2017.
Tác giả gửi bài cần đề địa chỉ, số điện thoại, email rõ ràng để tiện liên hệ.
4. Địa chỉ gửi bài: Viện Khảo cổ học, 61 Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Email: hoinghitbkch@gmail.com
Để tránh nhầm lẫn, các bài gửi qua email hoặc bưu điện cần phải đề: Bài gửi Hội nghị Thông báo khảo cổ học năm 2017
Chúng tôi hy vọng với sự quan tâm và hợp tác của quý vị và quý cơ quan, Hội nghị Thông báo những phát hiện mới về khảo cổ học lần thứ 52 sẽ thành công tốt đẹp.
Trân trọng!
| VIỆN TRƯỞNG | ||
|
TRƯỞNG BAN TỔ CHỨC HỘI NGHỊ
(Đã ký)
|
||
| PGS.TS. Nguyễn Giang Hải |

Quang cảnh khu vực gần hang Pắc Tà
+Lớp mặt (1): lớp văn hóa hiện đại, màu xám tro
+Lớp 2: lớp trầm tích hang động vô sinh, màu vàng nhạt
+Lớp 3: lớp văn hóa, màu xám đen
+Lớp 4: lớp văn hóa, màu vàng nhạt
+Lớp 5: lớp văn hóa, màu xám tro loang lổ
+Lớp 6: lớp trầm tích hang động vô sinh
+Lớp 7: lớp văn hóa, màu nâu đỏ (do ảnh hưởng của lửa)
+Lớp vô sinh dưới cùng: trầm tích hang động

Địa tầng di chỉ hang Pắc Tà

Hiện vật đá tại di chỉ hang Pắc Tà

Xương và nhuyễn thể trong hố khai quật
- Nxb: Khoa học xã hội, 2016
- Khổ sách: 16 x 24cm
- số trang: 782 trang
ốn sách là kết quả thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ được nghiệm thu xuất sắc: Nghiên cứu đánh giá giá trị lịch sử - văn hóa Việt Nam qua các di tích thời kỳ tiền sử ở miền Trung và Tây Nguyên được phát hiện và nghiên cứu từ năm 1998 đến 2010 do PGS.TS Nguyễn Khắc Sử làm chủ nhiệm.Nội dung cuốn sách gồm 5 chương:
Chương 1: Trình bày tổng quan tư liệu về địa lý nhân văn; tình hình phát hiện, nghiên cứu khảo cổ học miền Trung, nhấn mạnh một số hiện tượng đặc thù của vùng như: động đất, núi lửa, biển tiến, biển thoái và các tác nhân khác ảnh hưởng tới cư dân biển tiền sử, giới thiệu sơ bộ một số tộc người bản địa thuộc ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo liên quan đến khảo cổ tiền sử miền Trung Việt Nam.
Chương 2: Trình bày tư liệu, xác định đặc trưng cơ bản về di tích và di vật, niên đại và các giai đoạn phát triển, đánh giá giá trị lịch sử - văn hóa các nhóm di tích Đá cũ đã biết ở miền Trung.
Chương 3: Trình bày nội dung cơ bản 3 giai đoạn Đá mới ở miền Trung Việt Nam.
Chương 4: Trình bày diễn trình văn hóa tiền sử miền Trung Việt Nam, từ Đá cũ đến Đá mới, phác thảo môi trường sống, các hoạt động kinh tế, kết cấu tổ chức xã hội và chủ nhân các nhóm di tích, các văn hóa tiêu biểu.
Chương 5: xác định giá trị lịch sử văn hóa của các di tích tiền sử miền Trung Việt Nam thông qua việc phân tích so sánh các mối quan hệ văn hóa giữa tiền sử miền Trung và miền Bắc và miền Nam Việt Nam, cũng như với một số nước Đông Nam Á.
Xin trân trọng giới thiệu đến đông đảo bạn đọc!
Năm xuất bản: 2014
Kích thước: 16x24cm
Số trang: 634
Công trình Văn bia Lê Sơ là tập hợp đầu tiên về văn bia Lê Sơ của nước ta, từ Cao Bằng, Lai Châu, Hòa Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nội... kéo dài về phía Nam đến Thanh Hóa. Đây là sự tiếp nối của việc nghiên cứu văn khắc Hán Nôm từ Bắc thuộc, Lý Trần đến thời kỳ Hậu Lê do Viện Nghiên cứu Hán Nôm tiến hành từ nhiều năm trước đây.
Nằm trong quỹ đạo phát triển chung của nền văn học thời Lê Sơ, văn bia thời kỳ này đã tạo nên những điểm nhấn quan trọng trong tiến trình phát triển văn bia Việt Nam, đó là sự ra đời của hệ thống văn bia đề danh Tiến sĩ (ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long Hà Nội), hệ thống văn bia lăng mộ (ở Lam Sơn Thanh Hóa), hệ thống văn bia ma nhai (ở nhiều di tích và danh thắng)... Vì vậy, nên việc nghiên cứu, biên dịch và giới thiệu văn bia thời Lê Sơ rất có ý nghĩa khoa học. Nó cung cấp cho chúng ta những tư liệu hết sức có giá trị khi nghiên cứu về thời kỳ này nói riêng và lịch sử Việt

Công trình đã biên dịch 67 bài văn bia hết sức có giá trị, góp phần thực hiện xã hội hóa di sản Hán Nôm và làm sáng tỏ những giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống đang tiềm ẩn trong kho tàng tư liệu văn bia Hán Nôm của người xưa để lại.
Nguyên tắc để chọn dịch tư liệu trong cuốn sách này là văn bản còn rõ chữ, văn bản bị mờ để lại sau, khi có điều kiện sẽ khảo cứu tiếp vì khả năng giải mã các văn bản đó trước mắt gặp rất nhiều khó khăn. Một số bia mới được phát hiện sưu tầm bị mờ, vỡ nhiều chữ, bia khổ to và khó đọc đúng chữ Hán để phiên âm, dịch nghĩa. Nhưng đây lại là những bia quan trọng viết về cuộc kháng chiến chống quân Minh của các tướng lĩnh và quân dân Đại Việt. Vì thế, nhóm tác giả đã cố gắng chân hóa văn bản đến mức cao nhất có thể, điển hình là một số văn bia mới được sưu tầm từ Thanh Hóa trong thời gian qua.
Năm xuất bản: 2016
Kích thước:
Số trang: 256
- Chương I : Cơ sở hình thành chính sách văn hóa triều Nguyễn
- Chương II : Tăng cường hệ tư tưởng Nho giáo
- Chương III : Thể chế hóa một số lĩnh vực văn hóa
- Chương IV : Ưu tiên quan hệ với Trung Quốc, hạn chế tiếp xúc với phương Tây
- Chương V : Kinh nghiệm lịch sử từ chính sách văn hóa của triều Nguyễn.
Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc!

Các đại biểu tham gia hội thảo tại Mái đá Ngườm
Di chỉ khảo cổ học mái đá Ngườm có tọa độ 21047’44.56 vĩ độ Bắc và 105053’21.68 độ kinh Đông, thuộc thôn Kim Sơn, xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Đây là một di chỉ loại hình mái đá có hình hàm ếch, rộng khoảng 60 mét, cao 30 mét, mặt bằng mái đá rộng khoảng 700m2. Mái đá Ngườm nằm trên lưng chừng phía bắc của dãy núi Ngườm, cao hơn mực nước biển 90m, cao hơn 50m so với suối Thần Sa ở dưới chân núi.
Di chỉ mái đá Ngườm được phát hiện và thám sát năm 1980, khai quật lần 1 năm 1981, khai quật lần 2 năm 1982 với tổng diện tích 56m2. Lần khai quật thứ 3 (2017) mở 6m2 được ký hiệu là A, B, C, D, E, F.
Ở giai đoạn văn hóa muộn nhất là sự có mặt của lớp cư dân có thể thuộc hậu kỳ Đá mới, sơ kỳ Kim khí với sự xuất hiện 05 rìu đá mài toàn thân, kích thước nhỏ mang đặc trưng rìu đá Phùng Nguyên. Thêm vào đó, nhiều mảnh gốm thô trang trí văn thừng, khắc vạch, in chấm cũng đuợc phát hiện cùng với các rìu mài. Các mảnh gốm thô xuất lộ trong những lớp phía trên của tầng văn hóa.

Mảnh gốm thô phát hiện ở đơn vị tầng I, II

Rìu đá phát hiện ở đơn vị địa tầng I, II

Công cụ mảnh và mảnh tước trong các đơn vị địa tầng

Công cụ phát hiện trong lớp trầm tích màu đỏ cam
Trao đổi tại di tích, các nhà khoa học và các cơ quan quản lý văn hóa đều rất quan tâm đến phát hiện tầng trầm tích mới và những hiện vật trong đó. Nhiều ý kiến cho rằng, trong phạm vi hẹp sẽ khó có cái nhìn tổng quát về lớp trầm tích này. Hội thảo kiến nghị cần có nghiên cứu kỹ hơn và mở rộng phạm vi khai quật để có hiểu biết tốt hơn về lớp này.
Trình bày: Đoàn khai quật hợp tác Viện Khảo cổ học - Đại học Wollongong
Thời gian: 9h00’ ngày 12 tháng 05 năm 2017 (Thứ 6)
Địa điểm: Hội trường Viện Khảo cổ học - số 61 Phan Chu Trinh, Hà Nội
Kính mời các Quý vị quan tâm đến tham dự.
Năm xuất bản: 2015
Kích thước: 16x24cm
Số trang: 498

Tác giả tự đặt cho mình nhiệm vụ cố gắng vận dụng một phương pháp luận trên tinh thần thực chứng, tư duy phức hợp và cách tiếp cận hệ thống bắt đầu từ lòng đam mê. Lòng đam mê xuất phát từ một nhu cầu nội sinh, để tồn tại về tinh thần và tự thoả mãn bản thân, nếu có thể nâng thành một lẽ sống.
Cuốn sách là một bản tổng kết nhỏ những nghiên cứu và suy ngẫm trong hơn 40 năm qua của một con người gắn bó và luôn luôn muốn tìm hiểu lịch sử, văn hóa, con người của đất nước, quê hương, với một tình yêu, trách nhiệm cùng những trăn trở, âu lo. Vì vậy, nội dung của cuốn sách cũng được tập trung vào những chủ đề cơ bản, qua những thông tin và ý tưởng có liên quan đến những vấn đề về lịch sử, văn hóa của Hà Nội, Việt Nam cùng quá trình giao lưu, tiếp biến, hỗn dung của văn hóa Việt trong lịch sử.
Qua các mảnh ghép lịch sử từ quá khứ đến hiện tại, những góc nhìn, nghĩ suy về lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam nói chung và Thăng Long - Hà Nội nói riêng, hy vọng rằng những trang sử của ngày hôm qua có thể đem lại một gợi ý nào đó cho ngày hôm nay, theo tinh thần “ôn cố nhi tri tân” (ôn cũ để biết mới - Luận ngữ). Bởi vì lịch sử chính là một thông điệp đa nghĩa, một cuộc đối thoại thường trực và lời nhắn nhủ của quá khứ gửi cho hiện tại
