Kỹ thuật chồng nung bằng con kê vành khăn có mấu là một trong những phương pháp nung gốm men phổ biến trong giai đoạn Lý - Trần, để lại dấu vết rõ nét trên nhiều hiện vật khảo cổ. Dựa trên tư liệu từ cuộc khai quật tại địa điểm Vườn Hồng (36 Điện Biên Phủ, Hà Nội), bài viết này tập trung nghiên cứu loại hình sản phẩm sử dụng kỹ thuật chồng nung bằng con kê vành khăn có mấu, qua đó góp phần bổ sung tư liệu cho quá trình nhận diện và định niên đại đồ gốm men thời kỳ này.
Dựa trên vị trí đặt con kê, bài viết tập trung phân tích chi tiết hai loại tiêu biểu: loại 1 (con kê đặt trong lòng chân đế) và loại 2 (con kê đặt dưới vành chân đế), với các tiêu chí phân tích bao gồm màu men, diện phủ men, kỹ thuật cắt mép chân đế, loại hình, hoa văn và kích thước. Kết quả cho thấy loại 1 phổ biến hơn ở giai đoạn đầu thời Lý, với kỹ thuật chân đế cắt phẳng và dòng men ngọc là chủ đạo. Loại 2 có sự đa dạng hơn về kiểu cắt chân đế, loại hình trang trí và niên đại muộn hơn, phổ biến trong thời Trần.
Nghiên cứu không chỉ làm rõ đặc điểm kỹ thuật của từng loại hình sản phẩm mà còn cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa kỹ thuật chồng nung, cách tạo chân đế và trang trí hoa văn, góp phần làm rõ tiến trình phát triển và thay đổi kỹ thuật sản xuất gốm men trong giai đoạn Lý - Trần.
Trên cơ sở chỉnh chỉnh lý toàn bộ rìu bôn đá trong Bảo tàng Lạng Sơn, bài viết đã nhận diện được một số nhóm người hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Kim khí ở Lạng Sơn. Ngoài người Mai Pha từ lâu đã được công nhận, đó còn là người Hà Giang và những người khác Mai Pha.
Bài viết đã thảo luận về phương thức cư trú, không gian phân bố, di cư – di chuyển của các nhóm người cổ với sự liên hệ mang tính giả thuyết với điều kiện môi trường lúc bấy giờ, và cho rằng có 4 khu vực cư trú chủ yếu của các nhóm người cổ. Đó là khu vực thành phố Lạng Sơn và lân cận (thuộc thuộc trung lưu sông Kỳ Cùng) là địa bàn cư trú lâu dài của người Mai Pha; khu vực sơn khối đá vôi Bắc Sơn là nơi cư trú tạm thời của nhiều nhóm người cổ khác nhau; khu vực Đình Lập (thượng nguồn sông Kỳ Cùng) và khu vực Tràng Định. Dấu tích của người Hà Giang có mặt ở cả 4 khu vực này.
Nghiên cứu các loại ngói lợp góp phần nhận diện bộ mái kiến trúc mỗi thời. Cả hai thời Đại La và thời Lê sơ đều sử dụng mái ngói cong tức là dùng ngói dương và ngói âm lợp thân mái, đầu ngói ống và trích thủy lợp diềm mái. Bờ nóc bờ dải mái, góc mái sử dụng tượng con giống. Tuy nhiên, mái ngói kiến trúc thời Đại La thường đơn giản với việc ngói lợp diềm mái trang trí hoa sen, mặt người, ngôi sao bốn cánh... với sắc màu xám là chủ yếu. Trong khi đó mái kiến trúc cung đình thời Lê sơ được trang trí cầu kỳ hoành tráng. Ngói lợp diềm mái trang trí rồng, mặt người, hoa cúc, như ý…, bờ nóc bờ dải mái trang trí đẹp mắt với việc sử dụng các loại gạch chuyên biệt (gạch hộp, các loại gạch chữ nhật) trang trí rồng, hoa cúc, hoa dây cách điệu và chấm tròn. Diềm trang trí được sử dụng loại ngói diềm trang trí hình như ý cách điệu trên hai đầu hồi mái kiến trúc và diềm trang trí dưới mái hiên. Đặc biệt là sự góp mặt của loại ngói rồng tạo nên nét đặc sắc khác biệt trên bộ mái kiến trúc thời Lê sơ. Sắc màu đỏ tươi, màu xám bên cạnh màu vàng và màu xanh đã tạo nên sự khác biệt và hoành tráng trên bộ mái kiến trúc thời Lê sơ ở Thăng Long.
Nghiên cứu ngói lợp mái kiến trúc góp phần hiểu thêm về lịch sử văn hóa Việt Nam thời Đại La và thời Lê sơ.
 Tư liệu lịch sử cùng với các phát hiện khảo cổ học đã cho thấy thời Đại La khu vực này là lị sở của An Nam đô hộ phủ nhà Đường, trung tâm nội thành Hà Nội thời Tiền Thăng Long trong khoảng thế kỷ VII - IX. Nhận diện rõ về ngói lợp mái kiến trúc thời Đại La góp phần làm sáng rõ hơn lịch sử văn hóa thời kỳ này. Sự thống nhất về ngói lợp mái kiến trúc là ngói dương và ngói âm cùng ngói lợp diềm mái đầu ngói ống và trích thủy, các loại hoa sen, mặt người, các hoa văn khắc tự do trên ngói, đầu tượng linh thú, sư tử được trang trí khá cầu kỳ cho thấy các ngành nghề thủ công như sản xuất ngói, điêu khắc phát triển. Phong cách trang trí đầu ngói ống trên các mẫu hoa sen, mặt người phản ánh ảnh hưởng văn hóa Đường nhưng cũng phản chiếu yếu tố bản địa rõ nét. Ngói in các chữ Hán (Giang Tây, Giang Tây quân) cũng phản ánh sự huy động lực lượng quân đội tham gia sản xuất gạch ngói xây dựng thành Đại La.
The artifacts belonging to the manufacturing process of stone bangles: (1) Shaping the preforms. The first stage of transformation may be done at the quarrying sites where the stone is reduced to achieve a bifacial disc. This shaping allows the reduction of the quantity of raw material for later transportation to the workshops. (2) Drilling out a core. Products of the manufacturing process including the disc with drill marks from one side, core rings, and bracelets broken before polishing were found. Both techniques with polished drill bit and rotating-grinding tools have been reported. (3) Grinding and finishing the product. When the disc bracelets were completed, internal edges were polished with sandstone tools. The cylindrical tool permits the finishing of the internal edge, whereas the grooved polishing stones were used to smooth the surface and outer edges of the bracelets. The finished products are dispersed from this site, so they can be done in another location.
The chronological of Đồi Phòng Không is in the range of 2700 - 2500 BP. The Đồi Phòng Không archaeological site was discovered in 1985 and is a specialized stone bracelet workshop. The core relic area located on the hilltop area, about 4,000 square meters wide. The excavation results in 2019 show that artifacts are concentrated mainly on the southwest hillside. Four excavation pits, with a total area of 40m2, have been opened in this area, showing that the cultural layer is about 30 - 40cm thick.
The relic has a close relationship with Bưng Bạc and other prehistoric sites in Đồng Nai culture. The stone bracelets, given their intricate technology, are linked with the early stages of craft specialization, the beginnings of social organization, and the circulation networks of goods.
- Tác giả: Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
- Nhà xb
: Khoa học xã hội - 2025
- Số trang: 1339tr

- Khổ sách: 19x27cm
- Hình thức: bìa mềm
Cuốn sách thông báo các phát hiện mới về khảo cổ học trên toàn quốc trong năm 2024, bao gồm 379 bài viết bao gồm các vấn đề như: 6 bài giới thiệu về hoạt động chung của khảo cổ học, 36 bài về khảo cổ học tiền sử, 63 bài về khảo cổ học sơ sử nhà nước sớm, 218 bài về khảo cổ học lịch sử, 50 bài về khảo cổ học Champa-Óc Eo và 6 bài về khảo cổ học dưới nước.
Xin trân trọng giới thiệu!
Ngô Thị Nhung

Sáng 20/11 tại Hà Nội đã diễn ra Lễ khai trương không gian trưng bày “Thành tựu, kết quả nghiên cứu theo chủ đề của các đơn vị thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam”. Viện Khảo cổ học được chọn là đơn vị đầu tiên trưng bày “Thành tựu, kết quả nghiên cứu theo chủ đề của các đơn vị thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam”. 
Phát biểu tại buổi lễ, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam biểu dương những thành công mà Viện Khảo cổ học đã đạt được trong những năm qua. Đồng thời nhấn mạnh, hoạt động trưng bày kết quả nghiên cứu của các đơn vị trực thuộc trong Viện Hàn lâm tại không gian số 1 Liễu Giai (Ngọc Hà, Hà Nội) sẽ trở thành cầu nối giữa các nhà khoa học, nhà quản lý và cộng đồng, kết nối tri thức hướng tới phục vụ sự phát triển bền vững của xã hội.

20111.jpg
GS.TS. Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu tại buổi lễ.
 

Cán bộ Viện Khảo cổ học tại buổi khai trương trưng bày

Tiến sĩ Hà Văn Cẩn, Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam thông tin về các nội dung trưng bày gồm:

1. Các ấn phẩm tiêu biểu: Hàng nghìn bài báo đăng trên gần 300 số tạp chí Khảo cổ học có chất lượng được công chúng và giới khoa học đánh giá cao.Cùng đó, hệ thống sách có giá trị khoa học cao cũng đã được in ấn vừa phục vụ việc quảng bá Di sản vừa phục vụ tốt công tác nghiên cứu khoa học. Tiêu biểu là các cuốn sách lớn như Hùng Vương dựng nước (4 tập), Trống đồng Đông Sơn, Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Khảo cổ học Việt Nam (3 tập), Hoàng thành Thăng Long, Hoàng thành Thăng Long - Lịch sử nghìn năm từ lòng đất, Thành Nhà Hồ… và hàng trăm đầu sách của các cán bộ nghiên cứu khảo cổ học. Trong số đó, cụm công trình Khảo cổ học Tiền sử và Sơ sử Việt Nam của GS. Phạm Huy Thông, Theo dấu các nền văn hóa cổ của GS. Hà Văn Tấn đã được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Sách Hoàng thành Thăng Long năm 2008 do PGS.TS. Tống Trung Tín chủ biên được sử dụng làm quà tặng cho các nguyên thủ Hội nghị APEC của Nhà nước….

2. Phiên bản trống đồng Đông Sơn: là kết quả 02 đề tài nghiên cứu cấp Cơ sở năm 2015 và 2022 thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của Viện Khảo cổ học. Chiếc trống nhỏ được đúc thực nghiệm trống Quảng Chính (Quảng Ninh) theo tỷ lệ 1/1. Hoa văn, kích thước và trọng lượng giống như bản gốc. Chiếc trống lớn được đúc thực nghiệm năm 2015 để nghiên cứu quy trình đúc trống đồng; lấy mẫu hoa văn từ trống đồng Ngọc Lũ I là một trong những chiếc trống nổi tiếng và hoa văn đẹp nhất của trống đồng Đông Sơn. Kết quả đề tài đã đưa ra quy trình đúc trống đồng của văn hoá Đông Sơn và được các nhà nghiên cứu trong nước, quốc tế ủng hộ.

Các đại biểu thảo luận tại gian trưng bày sản phẩm thực nghiệm

Không gian trưng bày sản phẩm thực nghiệm của Viện Khảo cổ học

3. Lá đề chim phượng: Bảo vật quốc gia ở Hoàng thành Thăng Long, được tìm thấy tại Hố A20 Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu (Ba Đình, Hà Nội) trong địa tầng ổn định, phát lộ cùng với nhiều hiện vật và dấu tích nền móng kiến trúc có niên đại thời Lý, thời Trần thế kỷ XI-XIII. Bảo vật quốc gia “Lá đề chim phượng” là hiện vật được tạo tác hoàn toàn thủ công. Đây là một tác phẩm mỹ thuật hài hòa, tinh mỹ thể hiện sự trau chuốt, tài hoa của các nghệ nhân thời Lý. Đồ án trang trí chim phượng trong lòng lá đề đã thể hiện tính biểu tượng cao nhất, vừa phản ánh giá trị biểu trưng của hoàng gia, vừa phản ảnh giá trị biểu trưng của Phật giáo, tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa biểu tượng và triết lý của Phật giáo với biểu trưng uy quyền của hoàng gia.

Theo các nhà nghiên cứu, lá đề chim phượng có thể được trang trí ở chính giữa nóc mái cung điện, bởi quy mô kích thước to lớn và ý nghĩa biểu tượng của hiện vật. Đây là một tư liệu đặc biệt quan trọng cho việc nghiên cứu nghệ thuật, kiến trúc và tư tưởng thời Lý nói riêng và Đại Việt thời Lý-Trần nói chung.

2011.jpg
TS. Hà Văn Cẩn, Viện trưởng Viện Khảo cổ học phát biểu tại buổi lễ
 

4. Mô hình 3D kiến trúc điện Kính Thiên thời Lê Sơ: là tòa chính điện quan trọng nhất trong Cấm thành Thăng Long thời Lê Sơ. Kết quả nghiên cứu khảo cổ học đã đóng góp quan trọng và thiết thực trong việc quảng bá hình ảnh di sản Hoàng thành Thăng Long, giúp hình dung rõ ràng hơn, cảm nhận sâu sắc hơn về vẻ đẹp độc đáo, tráng lệ của kiến trúc điện Kính Thiên thời Lê Sơ trong Hoàng cung Thăng Long xưa.

20114.jpg
Mô hình 3D kiến trúc điện Kính Thiên thời Lê Sơ

5. Minh họa những phát hiện mới về khảo cổ học toàn quốc lần thứ 60 năm 2025: là hoạt động khoa học rất có ý nghĩa mang tầm quốc gia và quốc tế, đưa tri thức khảo cổ, lịch sử, di sản văn hóa toàn quốc đến với giới học thuật trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
Đây là hoạt động nhằm mục đích tôn vinh lịch sử, giới thiệu những thành tựu nổi bật trong quá trình xây dựng, phát triển hơn 70 năm qua, góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, quảng bá hình ảnh Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đổi mới, năng động, hội nhập sâu rộng với quốc tế.

Tin bài: Nguyễn Thơ Đình

 

Kết quả phân tích mẫu gỗ do phòng Thí nghiệm của Viện Khảo cổ học thực hiện cho thấy, thuyền cổ ở Bắc Ninh có từ cách đây gần 2.000 năm. Còn mẫu phân tích gửi sang nước ngoài chưa có kết quả.

Trang


61 Phan Chu Trinh, P. Cửa Nam, TP. Hà Nội

+8424 38255449
Copyright © 2016 by khaocohoc.gov.vn.
Thiết kế bởi VINNO
Tổng số lượt truy cập: 10757918
Số người đang online: 44