- Tác giả: Nguyễn
Đình Tư
- Nxb: Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh-2023
- Số trang: 887tr
- Khổ sách: 20,5x29cm
- Hình thức bìa: cứng
Bộ sách ra mắt nhân kỷ niệm 325 năm hình thành Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định-Thành phố Hồ Chí Minh (1698-2023) và kỷ niệm 48 năm Ngày Giải phóng miền nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2023).
“Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh: Dặm dài lịch sử (1698-2020)” được xem là công trình dày công nghiên cứu trên 20 năm của Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư. Với niềm đam mê sử học, ông đã tập trung thời gian, sức lực đi khắp các thư viện, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II ở Thành phố Hồ Chí Minh để tập hợp tài liệu, hoàn thành đề tài “Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn cung cấp bao quát thông tin đến công chúng về lịch sử từ thời đại tiền sử cho đến Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.
Tác phẩm “Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh: Dặm dài lịch sử (1698-2020)” gồm 6 phần chính. Được chia ra 2 tập với mốc thời gian tập I từ 1698-1945 và tập II từ 1945-2020. “Với tác phẩm này, tôi muốn cung cấp cho độc giả cái nhìn bao quát, toàn diện, cụ thể các giai đoạn lịch sử, từ năm 1698 đến năm 2020, các chế độ chính trị, các lĩnh vực hoạt động về hành chính, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, tôn giáo tín ngưỡng, thể dục thể thao,… của từng thời kỳ.
Xin trân trọng giới thiệu!
Đình Tư- Nxb: Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh-2023
- Số trang: 887tr
- Khổ sách: 20,5x29cm
- Hình thức bìa: cứng
Bộ sách ra mắt nhân kỷ niệm 325 năm hình thành Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định-Thành phố Hồ Chí Minh (1698-2023) và kỷ niệm 48 năm Ngày Giải phóng miền nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2023).
“Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh: Dặm dài lịch sử (1698-2020)” được xem là công trình dày công nghiên cứu trên 20 năm của Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư. Với niềm đam mê sử học, ông đã tập trung thời gian, sức lực đi khắp các thư viện, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II ở Thành phố Hồ Chí Minh để tập hợp tài liệu, hoàn thành đề tài “Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn cung cấp bao quát thông tin đến công chúng về lịch sử từ thời đại tiền sử cho đến Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.
Tác phẩm “Gia Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh: Dặm dài lịch sử (1698-2020)” gồm 6 phần chính. Được chia ra 2 tập với mốc thời gian tập I từ 1698-1945 và tập II từ 1945-2020. “Với tác phẩm này, tôi muốn cung cấp cho độc giả cái nhìn bao quát, toàn diện, cụ thể các giai đoạn lịch sử, từ năm 1698 đến năm 2020, các chế độ chính trị, các lĩnh vực hoạt động về hành chính, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, tôn giáo tín ngưỡng, thể dục thể thao,… của từng thời kỳ.
Xin trân trọng giới thiệu!
Ngô Thị Nhung
Bảng tỉ lệ thành phần các hạt trong gốm cho thấy Cồn Đất có 15 trong số 19 loại hạt khoáng vật được thống kê, Thạch Lạc có 13 loại hạt, Cồn Chợ Mới chỉ có 7 loại trong khi cả 3 địa điểm đều có chung môi trường khử vũng vịnh, trong không gian địa chất khối Mường Lát và Trường Sơn. Điều này cho thấy có ba thói quen làm gốm khác nhau ở, có thể của những nhóm người khác nhau trong cùng một văn hóa. Họ cùng chia sẻ kỹ thuật làm gốm song mỗi nhóm, mỗi gia đình có bí quyết riêng để giữ gốm bền khi sử dụng và an toàn khi nung. Xem xét mẫu đất sét tìm thấy trong di tích Cồn Đất cho thấy chỉ có 3 loại hạt khoáng cơ bản: thạch anh, fenspat và quazite với tỉ lệ thạch anh nhiều bất thường (28-30%), độ chọn lọc hạt tốt, kích thước hạt không quá 1mm. Nhiều khả năng đây là đất chọn lọc làm phôi ban đầu, khi làm gốm người thợ sẽ cho thêm các hạt khoáng khác (chất gầy) giúp gốm cứng chắc, bền hơn. Gốm được kiểm soát tốt tỷ lệ, thành phần, loại chất phụ gia, đồng thời xương gốm mỏng đều, ít vết cạo sửa cho thấy người thợ gốm đã nắm chắc chắn và thành thục kỹ thuật sản xuất, đồ gốm không phải sản phẩm của những thử nghiệm ban đầu.
Một số thành phần khoáng vật như khoáng có nguồn gốc magma, quặng hay quarzite có nguồn gốc địa chất trong khu vực, cho thấy nguồn sét và khoáng vật được khai tác tại chỗ. Một số loại khoáng khác như zircon, zoisit, gabbro, epidot cần được khảo chứng thêm về nguồn, nếu chúng có mặt tại chỗ chứng tỏ cư dân Quỳnh Văn hoàn toàn tự túc trong sản xuất gốm, nếu từ nơi khác cho thấy cư dân làm gốm có những mối liên hệ xa hơn.
Với những chứng cớ trên, chúng tôi cho rằng kỹ thuật làm gốm và gốm đáy nhọn không phải sản phẩm được cư dân Quỳnh Văn sáng tạo ra mà là kết quả sự tiếp thu kỹ thuật/ con người từ cộng đồng cư dân khác.
Một số thành phần khoáng vật như khoáng có nguồn gốc magma, quặng hay quarzite có nguồn gốc địa chất trong khu vực, cho thấy nguồn sét và khoáng vật được khai tác tại chỗ. Một số loại khoáng khác như zircon, zoisit, gabbro, epidot cần được khảo chứng thêm về nguồn, nếu chúng có mặt tại chỗ chứng tỏ cư dân Quỳnh Văn hoàn toàn tự túc trong sản xuất gốm, nếu từ nơi khác cho thấy cư dân làm gốm có những mối liên hệ xa hơn.
Với những chứng cớ trên, chúng tôi cho rằng kỹ thuật làm gốm và gốm đáy nhọn không phải sản phẩm được cư dân Quỳnh Văn sáng tạo ra mà là kết quả sự tiếp thu kỹ thuật/ con người từ cộng đồng cư dân khác.
Kết quả khảo sát và khai quật cho thấy thành được xây dựng dựa theo địa hình tự nhiên của hai quả đồi Bông Thượng và Bông Hạ. Việc xây dựng đã tận dụng triệt để yếu tố địa hình để kiến tạo một hệ thống phòng thủ khép kín và kiến cố.
Kết quả thám sát, khai quật cho thấy kết cấu chân tường thành không hoàn toàn đồng nhất: có vị trí chỉ kè phía bên ngoài, có vị trí kè cả bên trong và bên ngoài. Tại những vị trí có hai hàng đá, mép ngoài các hàng đá cách nhau từ 3,4-3,6m. Rất có thể tại những khu vực địa hình phức tạp, địa chất không ổn định hoặc có vị trí quân sự trọng yếu thành sẽ được kè cả hai mặt trong, ngoài. Ngược lại các vị trí khác chỉ được kè phần chân tường bên ngoài.
Đá kè chân tường thành được chế tác tương đối cẩn thận: Phần mặt trên và cạnh ngoài phẳng nhẵn. Đá được đặt ngay ngắn, đặc biệt là mép ngoài được căn chỉnh thẳng hàng. Điều này không chỉ phản ánh kỹ thuật xây dựng chính xác và quy chuẩn, nó còn có tác dụng lớn trong việc giữ ổn định kết cấu phần tường bên trên, tránh sụp đổ hoặc nứt vỡ.
Việc xây dựng không sử dụng chất kết dính. Phần tường thành đất được đầm chặt tạo độ kết dính tự nhiên, trong đất lẫn rất nhiều cuội, sỏi làm tăng độ vững chắc.
Ở những vị trí xuất lộ lớp lát nền, gạch dù sử dụng cả gạch lành và gạch vỡ nhưng luôn được xếp ngay ngắn. Hơn nữa, bên dưới lớp gạch lát, đất được trộn gạch vỡ đầm lèn rất chặt tạo mặt bằng. Điều đó làm cho lớp lát nền rất ổn định. Việc lát nền bằng gạch vồ, trùm cả lên phần đá kè là ấn số mà chúng tôi chưa giải thích được một cách thấu đáo. Phải chăng đây là vị trí các cửa thành hoặc cũng có thể đây là dấu tích đường đi trong thành. Bởi lẽ, phần chân tường thành thì chắc chắn không cần phải làm cầu kỳ đến như vậy.
Ở một số vị trí (hố 1 năm 2025 và hố 5 năm 2024) xuất hiện lớp ngói tương đối dày. Quá trình chỉnh lý, phân loại cho thấy có 2 loại ngói: ngói phẳng và ngói cong. Ngói phẳng hoàn toàn là ngói mũi nhọn, móc cài được tạo bởi kỹ thuật ấn vuốt bằng hai ngón tay. Cùng với số lượng lớn mảnh ngói, sự xuất hiện của gạch vuông lát nền và gạch trang trí hoa văn (dù chưa nhiều) cho thấy trong thành có thể tồn tại các kiến trúc lớn, mái lợp ngói đất nung, nền có thể được lát gạch vuông, thậm chí được trang trí bằng gạch có hoa văn.
Sự xuất hiện của số lượng lớn đạn đá và súng thần công với nhiều kích cỡ khác nhau tại di tích cho thấy chức năng quân sự tương đối rõ ràng của tòa thành này.
Các loại hình đồ dùng sinh hoạt phát hiện được gồm gốm sứ, sành, có niên đại trải dài từ thế kỷ XVI đến XVII, phản ánh quá trình cư trú lâu dài, ổn định và liên tục của lực lượng trấn giữ và có thể cả dân cư trong thành thành
Mặc dù kết quả nghiên cứu về thành nhà Bầu (Tuyên Quang) đã đạt được những thành tựu quan trọng nhất định, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề khoa học cần tiếp tục làm sáng tỏ, như: chưa phát hiện được dấu tích kiến trúc nhà ở; hệ thống giao thông nội và ngoại thành; chưa có bằng chứng chắc chắn về vị trí và cấu trúc các cửa thành, hào thành, thành ngoại; chưa xác định được nơi khai thác, chế tác vật liệu đá; chưa rõ về các khu sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, ngói) và đồ dùng sinh hoạt; liệu có sự hiện diện của bến thuyền trong khu vực thành hay không. Đây là những câu hỏi gợi mở quan trọng cho các đợt nghiên cứu tiếp theo về thành nhà Bầu (Tuyên Quang).
Kết quả thám sát, khai quật cho thấy kết cấu chân tường thành không hoàn toàn đồng nhất: có vị trí chỉ kè phía bên ngoài, có vị trí kè cả bên trong và bên ngoài. Tại những vị trí có hai hàng đá, mép ngoài các hàng đá cách nhau từ 3,4-3,6m. Rất có thể tại những khu vực địa hình phức tạp, địa chất không ổn định hoặc có vị trí quân sự trọng yếu thành sẽ được kè cả hai mặt trong, ngoài. Ngược lại các vị trí khác chỉ được kè phần chân tường bên ngoài.
Đá kè chân tường thành được chế tác tương đối cẩn thận: Phần mặt trên và cạnh ngoài phẳng nhẵn. Đá được đặt ngay ngắn, đặc biệt là mép ngoài được căn chỉnh thẳng hàng. Điều này không chỉ phản ánh kỹ thuật xây dựng chính xác và quy chuẩn, nó còn có tác dụng lớn trong việc giữ ổn định kết cấu phần tường bên trên, tránh sụp đổ hoặc nứt vỡ.
Việc xây dựng không sử dụng chất kết dính. Phần tường thành đất được đầm chặt tạo độ kết dính tự nhiên, trong đất lẫn rất nhiều cuội, sỏi làm tăng độ vững chắc.
Ở những vị trí xuất lộ lớp lát nền, gạch dù sử dụng cả gạch lành và gạch vỡ nhưng luôn được xếp ngay ngắn. Hơn nữa, bên dưới lớp gạch lát, đất được trộn gạch vỡ đầm lèn rất chặt tạo mặt bằng. Điều đó làm cho lớp lát nền rất ổn định. Việc lát nền bằng gạch vồ, trùm cả lên phần đá kè là ấn số mà chúng tôi chưa giải thích được một cách thấu đáo. Phải chăng đây là vị trí các cửa thành hoặc cũng có thể đây là dấu tích đường đi trong thành. Bởi lẽ, phần chân tường thành thì chắc chắn không cần phải làm cầu kỳ đến như vậy.
Ở một số vị trí (hố 1 năm 2025 và hố 5 năm 2024) xuất hiện lớp ngói tương đối dày. Quá trình chỉnh lý, phân loại cho thấy có 2 loại ngói: ngói phẳng và ngói cong. Ngói phẳng hoàn toàn là ngói mũi nhọn, móc cài được tạo bởi kỹ thuật ấn vuốt bằng hai ngón tay. Cùng với số lượng lớn mảnh ngói, sự xuất hiện của gạch vuông lát nền và gạch trang trí hoa văn (dù chưa nhiều) cho thấy trong thành có thể tồn tại các kiến trúc lớn, mái lợp ngói đất nung, nền có thể được lát gạch vuông, thậm chí được trang trí bằng gạch có hoa văn.
Sự xuất hiện của số lượng lớn đạn đá và súng thần công với nhiều kích cỡ khác nhau tại di tích cho thấy chức năng quân sự tương đối rõ ràng của tòa thành này.
Các loại hình đồ dùng sinh hoạt phát hiện được gồm gốm sứ, sành, có niên đại trải dài từ thế kỷ XVI đến XVII, phản ánh quá trình cư trú lâu dài, ổn định và liên tục của lực lượng trấn giữ và có thể cả dân cư trong thành thành
Mặc dù kết quả nghiên cứu về thành nhà Bầu (Tuyên Quang) đã đạt được những thành tựu quan trọng nhất định, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề khoa học cần tiếp tục làm sáng tỏ, như: chưa phát hiện được dấu tích kiến trúc nhà ở; hệ thống giao thông nội và ngoại thành; chưa có bằng chứng chắc chắn về vị trí và cấu trúc các cửa thành, hào thành, thành ngoại; chưa xác định được nơi khai thác, chế tác vật liệu đá; chưa rõ về các khu sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, ngói) và đồ dùng sinh hoạt; liệu có sự hiện diện của bến thuyền trong khu vực thành hay không. Đây là những câu hỏi gợi mở quan trọng cho các đợt nghiên cứu tiếp theo về thành nhà Bầu (Tuyên Quang).
Trên cơ sở nghiên cứu các di tích văn hóa Đông Sơn phát hiện ở Hòa Bình từ 1887 đến năm 2024, bài viết đưa ra đặc điểm phân bố di tích, đặc điểm loại hình di tích và đặc điểm di vật. Giai đoạn Văn hóa Đông Sơn Hòa Bình mang những đặc điểm chung của các di tích văn hóa Đông sơn thuộc loại hình miền núi phía Bắc: di tích phát hiện lẻ tẻ chủ yếu phát hiện bên các dòng suối, dòng sông, hiện vật chủ yếu là đồ đồng, trong đó nhóm công cụ sản xuất, vũ khí và nhạc cụ là chiếm số lượng nhiều. Tuy nhiên, giai đoạn này Hòa Bình có những đặc điểm riêng, sự xuất hiện các loại hình hiện vật ở đây: Loại hình sông Hồng, loại hình sông Mã và loại hình miền núi phía Bắc. Sự xuất hiện trống đồng Đông Sơn hay còn gọi trống đồng Heger I với 11 chiếc vơí đủ các nhóm trừ nhóm D (từ trống có niên đại sớm nhất đến trống có niên đại muộn nhất). Nếu so số lượng trống với các tỉnh miền núi phía Bắc thì trống đồng phát hiện ở Hòa Bình đáng chú ý từ số lượng đến nhóm, kiểu. Hơn thế nữa, sự xuất hiện nhóm rìu chiến có trang trí hoa văn những con hưu có đồi sừng dài hay hoa văn hình người hóa trang, cá sấu giao nhau, những hoa văn này thường thấy trang trí trên trống đồng Đông Sơn ở khu vực này cũng là một vấn đề đáng để suy ngẫm. Những dấu hiệu này cho thấy đây là một hiện tượng cất giấu đồ vật quý hiếm, trong các trường hợp xã hội có sự bất ổn.
Các nghiên cứu về di chỉ Bàu Dũ và các di tích hậu Hòa Bình ven biển Việt Nam cho thấy diện mạo văn hóa cư dân tiền sử thời đá mới khá đa dạng theo từng vùng, nhưng đều có điểm chung là khai thác biển từ rất sớm. Ở ven biển phía Bắc, cư dân Cái Bèo nổi bật với hoạt động đánh bắt cá biển xa bờ và chế tác gốm sớm nhất. Ven biển Bắc Trung Bộ có cư dân Đa Bút và Quỳnh Văn, trong đó Đa Bút ban đầu khai thác nhuyễn thể sông, Quỳnh Văn khai thác nhuyễn thể biển. Ở Nam Trung Bộ, cư dân Bàu Dũ là nhóm sớm nhất khai thác sò, điệp, hàu…
Mặc dù mỗi khu vực có đặc điểm riêng, tất cả đều duy trì hình thức mai táng co bó gối và kỹ thuật ghè đẽo công cụ đá. Cái Bèo và Đa Bút có trình độ phát triển cao hơn, chế tác công cụ mài và gốm sớm hơn; Quỳnh Văn và Bàu Dũ chủ yếu dùng cuội và đá phiến, Quỳnh Văn cũng đã có gốm sơ khai. Bàu Dũ còn đóng vai trò cầu nối tới giai đoạn văn hóa Xóm Cồn và Sa Huỳnh, đặc biệt liên hệ với cư dân Văn Tứ Đông ở Khánh Hòa. Qua những đặc điểm di vật và địa tầng cho chúng ta thấy được sự ảnh hưởng của văn hóa Hòa Bình với các cư dân sau này ở dọc ven biển nước ta. Đặc biệt vị trí của di chỉ Bàu Dũ đối với các di tích hậu Hòa Bình ven biển khác, cùng với đó là sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa các cộng đồng cư dân cổ được diễn ra như thế nào.
Tổng thể, hệ thống các di chỉ này phản ánh sự kế thừa và phát triển từ văn hóa Hòa Bình, hình thành bình tuyến văn hóa ven biển từ Bắc vào Nam (Cái Bèo – Đa Bút – Quỳnh Văn – Bàu Dũ), với đặc trưng là khai thác nhuyễn thể, tạo nên các “đống rác bếp” tiêu biểu trong khảo cổ học Việt Nam, trong đó Bàu Dũ là một di chỉ điển hình về sự thích ứng với môi trường biển trong thời đại đồ đá mới nước ta.
Mặc dù mỗi khu vực có đặc điểm riêng, tất cả đều duy trì hình thức mai táng co bó gối và kỹ thuật ghè đẽo công cụ đá. Cái Bèo và Đa Bút có trình độ phát triển cao hơn, chế tác công cụ mài và gốm sớm hơn; Quỳnh Văn và Bàu Dũ chủ yếu dùng cuội và đá phiến, Quỳnh Văn cũng đã có gốm sơ khai. Bàu Dũ còn đóng vai trò cầu nối tới giai đoạn văn hóa Xóm Cồn và Sa Huỳnh, đặc biệt liên hệ với cư dân Văn Tứ Đông ở Khánh Hòa. Qua những đặc điểm di vật và địa tầng cho chúng ta thấy được sự ảnh hưởng của văn hóa Hòa Bình với các cư dân sau này ở dọc ven biển nước ta. Đặc biệt vị trí của di chỉ Bàu Dũ đối với các di tích hậu Hòa Bình ven biển khác, cùng với đó là sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa các cộng đồng cư dân cổ được diễn ra như thế nào.
Tổng thể, hệ thống các di chỉ này phản ánh sự kế thừa và phát triển từ văn hóa Hòa Bình, hình thành bình tuyến văn hóa ven biển từ Bắc vào Nam (Cái Bèo – Đa Bút – Quỳnh Văn – Bàu Dũ), với đặc trưng là khai thác nhuyễn thể, tạo nên các “đống rác bếp” tiêu biểu trong khảo cổ học Việt Nam, trong đó Bàu Dũ là một di chỉ điển hình về sự thích ứng với môi trường biển trong thời đại đồ đá mới nước ta.
Kỹ thuật chồng nung bằng con kê vành khăn có mấu là một trong những phương pháp nung gốm men phổ biến trong giai đoạn Lý - Trần, để lại dấu vết rõ nét trên nhiều hiện vật khảo cổ. Dựa trên tư liệu từ cuộc khai quật tại địa điểm Vườn Hồng (36 Điện Biên Phủ, Hà Nội), bài viết này tập trung nghiên cứu loại hình sản phẩm sử dụng kỹ thuật chồng nung bằng con kê vành khăn có mấu, qua đó góp phần bổ sung tư liệu cho quá trình nhận diện và định niên đại đồ gốm men thời kỳ này.
Dựa trên vị trí đặt con kê, bài viết tập trung phân tích chi tiết hai loại tiêu biểu: loại 1 (con kê đặt trong lòng chân đế) và loại 2 (con kê đặt dưới vành chân đế), với các tiêu chí phân tích bao gồm màu men, diện phủ men, kỹ thuật cắt mép chân đế, loại hình, hoa văn và kích thước. Kết quả cho thấy loại 1 phổ biến hơn ở giai đoạn đầu thời Lý, với kỹ thuật chân đế cắt phẳng và dòng men ngọc là chủ đạo. Loại 2 có sự đa dạng hơn về kiểu cắt chân đế, loại hình trang trí và niên đại muộn hơn, phổ biến trong thời Trần.
Nghiên cứu không chỉ làm rõ đặc điểm kỹ thuật của từng loại hình sản phẩm mà còn cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa kỹ thuật chồng nung, cách tạo chân đế và trang trí hoa văn, góp phần làm rõ tiến trình phát triển và thay đổi kỹ thuật sản xuất gốm men trong giai đoạn Lý - Trần.
Dựa trên vị trí đặt con kê, bài viết tập trung phân tích chi tiết hai loại tiêu biểu: loại 1 (con kê đặt trong lòng chân đế) và loại 2 (con kê đặt dưới vành chân đế), với các tiêu chí phân tích bao gồm màu men, diện phủ men, kỹ thuật cắt mép chân đế, loại hình, hoa văn và kích thước. Kết quả cho thấy loại 1 phổ biến hơn ở giai đoạn đầu thời Lý, với kỹ thuật chân đế cắt phẳng và dòng men ngọc là chủ đạo. Loại 2 có sự đa dạng hơn về kiểu cắt chân đế, loại hình trang trí và niên đại muộn hơn, phổ biến trong thời Trần.
Nghiên cứu không chỉ làm rõ đặc điểm kỹ thuật của từng loại hình sản phẩm mà còn cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa kỹ thuật chồng nung, cách tạo chân đế và trang trí hoa văn, góp phần làm rõ tiến trình phát triển và thay đổi kỹ thuật sản xuất gốm men trong giai đoạn Lý - Trần.
Trên cơ sở chỉnh chỉnh lý toàn bộ rìu bôn đá trong Bảo tàng Lạng Sơn, bài viết đã nhận diện được một số nhóm người hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Kim khí ở Lạng Sơn. Ngoài người Mai Pha từ lâu đã được công nhận, đó còn là người Hà Giang và những người khác Mai Pha.
Bài viết đã thảo luận về phương thức cư trú, không gian phân bố, di cư – di chuyển của các nhóm người cổ với sự liên hệ mang tính giả thuyết với điều kiện môi trường lúc bấy giờ, và cho rằng có 4 khu vực cư trú chủ yếu của các nhóm người cổ. Đó là khu vực thành phố Lạng Sơn và lân cận (thuộc thuộc trung lưu sông Kỳ Cùng) là địa bàn cư trú lâu dài của người Mai Pha; khu vực sơn khối đá vôi Bắc Sơn là nơi cư trú tạm thời của nhiều nhóm người cổ khác nhau; khu vực Đình Lập (thượng nguồn sông Kỳ Cùng) và khu vực Tràng Định. Dấu tích của người Hà Giang có mặt ở cả 4 khu vực này.
Bài viết đã thảo luận về phương thức cư trú, không gian phân bố, di cư – di chuyển của các nhóm người cổ với sự liên hệ mang tính giả thuyết với điều kiện môi trường lúc bấy giờ, và cho rằng có 4 khu vực cư trú chủ yếu của các nhóm người cổ. Đó là khu vực thành phố Lạng Sơn và lân cận (thuộc thuộc trung lưu sông Kỳ Cùng) là địa bàn cư trú lâu dài của người Mai Pha; khu vực sơn khối đá vôi Bắc Sơn là nơi cư trú tạm thời của nhiều nhóm người cổ khác nhau; khu vực Đình Lập (thượng nguồn sông Kỳ Cùng) và khu vực Tràng Định. Dấu tích của người Hà Giang có mặt ở cả 4 khu vực này.
Nghiên cứu các loại ngói lợp góp phần nhận diện bộ mái kiến trúc mỗi thời. Cả hai thời Đại La và thời Lê sơ đều sử dụng mái ngói cong tức là dùng ngói dương và ngói âm lợp thân mái, đầu ngói ống và trích thủy lợp diềm mái. Bờ nóc bờ dải mái, góc mái sử dụng tượng con giống. Tuy nhiên, mái ngói kiến trúc thời Đại La thường đơn giản với việc ngói lợp diềm mái trang trí hoa sen, mặt người, ngôi sao bốn cánh... với sắc màu xám là chủ yếu. Trong khi đó mái kiến trúc cung đình thời Lê sơ được trang trí cầu kỳ hoành tráng. Ngói lợp diềm mái trang trí rồng, mặt người, hoa cúc, như ý…, bờ nóc bờ dải mái trang trí đẹp mắt với việc sử dụng các loại gạch chuyên biệt (gạch hộp, các loại gạch chữ nhật) trang trí rồng, hoa cúc, hoa dây cách điệu và chấm tròn. Diềm trang trí được sử dụng loại ngói diềm trang trí hình như ý cách điệu trên hai đầu hồi mái kiến trúc và diềm trang trí dưới mái hiên. Đặc biệt là sự góp mặt của loại ngói rồng tạo nên nét đặc sắc khác biệt trên bộ mái kiến trúc thời Lê sơ. Sắc màu đỏ tươi, màu xám bên cạnh màu vàng và màu xanh đã tạo nên sự khác biệt và hoành tráng trên bộ mái kiến trúc thời Lê sơ ở Thăng Long.
Nghiên cứu ngói lợp mái kiến trúc góp phần hiểu thêm về lịch sử văn hóa Việt Nam thời Đại La và thời Lê sơ.
Tư liệu lịch sử cùng với các phát hiện khảo cổ học đã cho thấy thời Đại La khu vực này là lị sở của An Nam đô hộ phủ nhà Đường, trung tâm nội thành Hà Nội thời Tiền Thăng Long trong khoảng thế kỷ VII - IX. Nhận diện rõ về ngói lợp mái kiến trúc thời Đại La góp phần làm sáng rõ hơn lịch sử văn hóa thời kỳ này. Sự thống nhất về ngói lợp mái kiến trúc là ngói dương và ngói âm cùng ngói lợp diềm mái đầu ngói ống và trích thủy, các loại hoa sen, mặt người, các hoa văn khắc tự do trên ngói, đầu tượng linh thú, sư tử được trang trí khá cầu kỳ cho thấy các ngành nghề thủ công như sản xuất ngói, điêu khắc phát triển. Phong cách trang trí đầu ngói ống trên các mẫu hoa sen, mặt người phản ánh ảnh hưởng văn hóa Đường nhưng cũng phản chiếu yếu tố bản địa rõ nét. Ngói in các chữ Hán (Giang Tây, Giang Tây quân) cũng phản ánh sự huy động lực lượng quân đội tham gia sản xuất gạch ngói xây dựng thành Đại La.
Nghiên cứu ngói lợp mái kiến trúc góp phần hiểu thêm về lịch sử văn hóa Việt Nam thời Đại La và thời Lê sơ.
Tư liệu lịch sử cùng với các phát hiện khảo cổ học đã cho thấy thời Đại La khu vực này là lị sở của An Nam đô hộ phủ nhà Đường, trung tâm nội thành Hà Nội thời Tiền Thăng Long trong khoảng thế kỷ VII - IX. Nhận diện rõ về ngói lợp mái kiến trúc thời Đại La góp phần làm sáng rõ hơn lịch sử văn hóa thời kỳ này. Sự thống nhất về ngói lợp mái kiến trúc là ngói dương và ngói âm cùng ngói lợp diềm mái đầu ngói ống và trích thủy, các loại hoa sen, mặt người, các hoa văn khắc tự do trên ngói, đầu tượng linh thú, sư tử được trang trí khá cầu kỳ cho thấy các ngành nghề thủ công như sản xuất ngói, điêu khắc phát triển. Phong cách trang trí đầu ngói ống trên các mẫu hoa sen, mặt người phản ánh ảnh hưởng văn hóa Đường nhưng cũng phản chiếu yếu tố bản địa rõ nét. Ngói in các chữ Hán (Giang Tây, Giang Tây quân) cũng phản ánh sự huy động lực lượng quân đội tham gia sản xuất gạch ngói xây dựng thành Đại La.
The artifacts belonging to the manufacturing process of stone bangles: (1) Shaping the preforms. The first stage of transformation may be done at the quarrying sites where the stone is reduced to achieve a bifacial disc. This shaping allows the reduction of the quantity of raw material for later transportation to the workshops. (2) Drilling out a core. Products of the manufacturing process including the disc with drill marks from one side, core rings, and bracelets broken before polishing were found. Both techniques with polished drill bit and rotating-grinding tools have been reported. (3) Grinding and finishing the product. When the disc bracelets were completed, internal edges were polished with sandstone tools. The cylindrical tool permits the finishing of the internal edge, whereas the grooved polishing stones were used to smooth the surface and outer edges of the bracelets. The finished products are dispersed from this site, so they can be done in another location.
The chronological of Đồi Phòng Không is in the range of 2700 - 2500 BP. The Đồi Phòng Không archaeological site was discovered in 1985 and is a specialized stone bracelet workshop. The core relic area located on the hilltop area, about 4,000 square meters wide. The excavation results in 2019 show that artifacts are concentrated mainly on the southwest hillside. Four excavation pits, with a total area of 40m2, have been opened in this area, showing that the cultural layer is about 30 - 40cm thick.
The relic has a close relationship with Bưng Bạc and other prehistoric sites in Đồng Nai culture. The stone bracelets, given their intricate technology, are linked with the early stages of craft specialization, the beginnings of social organization, and the circulation networks of goods.
The chronological of Đồi Phòng Không is in the range of 2700 - 2500 BP. The Đồi Phòng Không archaeological site was discovered in 1985 and is a specialized stone bracelet workshop. The core relic area located on the hilltop area, about 4,000 square meters wide. The excavation results in 2019 show that artifacts are concentrated mainly on the southwest hillside. Four excavation pits, with a total area of 40m2, have been opened in this area, showing that the cultural layer is about 30 - 40cm thick.
The relic has a close relationship with Bưng Bạc and other prehistoric sites in Đồng Nai culture. The stone bracelets, given their intricate technology, are linked with the early stages of craft specialization, the beginnings of social organization, and the circulation networks of goods.
Trang
Copyright © 2016 by khaocohoc.gov.vn.
Thiết kế bởi VINNO
Tổng số lượt truy cập: 10576772
Số người đang online: 26


